vinafor.com.vn
Đang tải dữ liệu...
 Trang chủ  |   Giới thiệu  |   Lĩnh vực hoạt động  |   Sản phẩm dịch vụ  |   Liên hệ  |   Nội bộ  |   English
Search

Hướng dẫn việc liên doanh,liên kết trồng rừng nguyên liệu gắn với chế biến sản phẩm gỗ

mard.gov.vn   
12:00' AM - Thứ hai, 01/01/1900

I. MỘT SỐ CHÍNH SÁCH LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN VÙNG NGUYÊN LIỆU VÀ XUẤT NHẬP KHẨU LÂM SẢN

1. Về lĩnh vực phát triển rừng
1.1. Về đất đai
- Chủ rừng được ưu đãi về miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và thuế sử dụng đất theo quy định tại các Điều 22, 24 và 26, Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư.
- Chủ rừng được cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt để trồng mới rừng sản xuất theo hướng dẫn tại Thông tư số 99/2006/TT-BNN ngày 06/11/2006 của Bộ Nông nghiệp và PTNT.
- Các tổ chức, cá nhân là người Việt Nam được giao rừng, cho thuê rừng theo quy định tại Nghị định sè 23/2006/N§ - CP, ngày 03/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004;
1.2.Về chính sách hỗ trợ và tín dụng của Nhà nước.
- Các doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các tổ chức, hộ gia đình tham gia trồng rừng (gỗ lớn và gỗ nhỏ) trong các dự án trồng rừng nguyên liệu do Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt được vay vốn từ Quỹ Hỗ trợ phát triển (nay là Ngân hàng phát triển) theo quy định tại Nghị định số 106/2004/NĐ-CP ngày 01/4/2004 và Nghị định 20/2005/NĐ-CP ngày 28/2/2005 của Chính phủ.
- Được hưởng nguồn hỗ trợ, ưu đãi, khi trồng mới rừng sản xuất, trồng cây phân tán, theo quy định tại Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg ngày 10/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007-2015.
- Hỗ trợ lãi suất cho các tổ chức, cá nhân vay vốn ngân hàng để sản xuất, kinh doanh theo Quyết định 131/QĐ-TTg ngày 13/1/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ lãi suất cho tổ chức, cá nhân vay vốn để sản xuất, kinh doanh
1.3. Chính sách lưu thông và tiêu thụ sản phẩm
Các nhà máy chế biến gỗ rừng trồng trên địa bàn thuộc các tỉnh vùng Tây Bắc (theo Nghị quyết 37/NQ-TW ngày 01 tháng 4 năm 2004) được Nhà nước hỗ trợ chi phí vận chuyển sản phẩm trong 5 năm đầu tiên tính từ khi nhà máy bắt đầu sản xuất. Mức hỗ trợ thực hiện theo Quyết định số 210/2006/QĐ-TTg ngày 12 tháng 9 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ là 1.000 đồng/tấn/km (một nghìn đồng). Hình thức hỗ trợ đầu tư quy định tại Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg ngày 10/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007-2015;
1.4. Chính sách hưởng lợi
Đối với rừng trồng mới là rừng sản xuất; diện tích rừng trồng là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đã được trồng bằng nguồn vốn của Chương trình 327 trước đây và nguồn vốn từ ngân sách nhà nước thuộc Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, nay quy hoạch là rừng sản xuất, chính sách hưởng lợi được quy định tại Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg ngày 10/7/2007của Thủ tướng Chính phủ, như sau:
- Khi khai thác chủ rừng được hưởng toàn bộ sản phẩm từ rừng trồng và được hưởng các chính sách ưu đãi về miễn giảm thuế và tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật hiện hành. Chủ rừng chỉ phải nộp cho ngân sách xã số tiền tương đương với 80 kg thóc/ha/chu kỳ rừng trồng, để xây dựng Quỹ phát triển rừng của xã và Quỹ phát triển rừng thôn, bản, trong đó trích nộp cho mỗi quỹ là 50%.
- Đối với diện tích rừng sản xuất do hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng nhận khoán của các Ban Quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ hoặc doanh nghiệp quốc doanh (gọi tắt là bên giao khoán) thì chủ rừng nộp số tiền trên cho bên giao khoán. Không phải nộp thêm bất cứ khoản gì cho bên giao khoán.
2. Về lĩnh vực xuất nhập khẩu
- Thuế xuất khẩu đối với một số mặt hàng thuộc nhóm mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ áp dụng mức thuế suất là 0% kể từ ngày 01/12/2008 theo Quyết định số 109/2008/QĐ-TTg ngày 28/11/2008 của Bộ Tài chính;
- Giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp và giãn thời hạn nộp thuế trong thời gian 9 tháng năm 2009 đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ có sản xuất, gia công chế biến nông lâm thuỷ sản theo hướng dẫn tại Thông tư 04/2009/TT-BTC ngày 13/1/2009;

II. MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG TRONG LIÊN DOANH, LIÊN KẾT TRỒNG RỪNG NGUYÊN LIỆU PHỤC VỤ CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN

1. Các nhà máy chế biến có thể là chủ đầu tư để thực hiện liên kết trồng rừng nguyên liệu theo quy hoạch được duyệt, nhà máy ký hợp đồng trực tiếp với các chủ rừng là tổ chức hoặc hộ gia đình cá nhân để trồng rừng và chăm sóc rừng trồng có sự giám sát của chính quyền địa phương, thông qua các hình thức:
1.1. Nếu người trồng rừng là hộ gia đình, cá nhân (người dân)
a.Nếu trồng rừng trên chính đất của mình: Nhà máy chế biến đầu tư vốn để người dân trồng rừng, mức đầu tư được thoả thuận giữa người dân và nhà máy, có thể xác định như sau:
- Là tổng giá trị tính bằng tiền mua khối lượng gỗ mà người dân cam kết bán cho nhà máy tại thời điểm khai thác (tính toán trên cơ sở giá mua gỗ hiện tại, cộng với phần phát sinh dự kiến do trượt giá). Ví dụ: người dân cam kết đến năm 2012 sẽ bán cho nhà máy 500 m3 gỗ tròn, thì mức đầu tư được tính như sau:
A ( mức đầu tư) = 500 ( khối lượng gỗ cam kết bán) x 600.000 đồng ( giá bán bình quân 1 m3 gỗ tại thời điểm hiện tại) + 200.000 đồng ( dự kiến do trượt giá).
- Là toàn bộ giá trị tính bằng tiền các chi phí thực tế để: trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng trồng đến thời điểm khai thác (chi phí này tính toán trên cơ sở dự toán được 2 bên thoả thuận ). Để thực hiện phương thức này phải đảm bảo điều kiện người dân và nhà máy phải hợp đồng giao nộp sản phẩm tương ứng với diện tích đã được đầu tư. Nhà máy phải nghiệm thu và đầu tư theo tiến độ thực tế và giám sát trong suốt quá trình đến thời điểm khai thác.
b. Nếu người dân trồng rừng trên đất của Nhà máy chế biến thì áp dụng phương pháp khoán công việc, hoặc liên kết theo hình thức: Nhà máy đầu tư toàn bộ chi phí thực tế trồng và chăm sóc rừng trồng đến thời điểm khai thác, người dân giao nộp sản phẩm tương ứng với diện tích đã được đầu tư (chi phí đầu tư, khối lượng sản phẩm giao nộp theo thoả thuận).
1.2.Trong trường hợp các hộ gia đình, cá nhân (người dân) tự nguyện thành lập nhóm hộ để liên kết trồng rừng cung cấp nguyên liệu cho nhà máy chế biến.
Nhóm hộ tiến hành bình bầu trưởng nhóm; Trưởng nhóm là người đại diện cho cả nhóm để khâu nối, liên lạc và giải quyết nột số nội dung theo sự thống nhất và uỷ quyền của thành viên trong nhóm. Việc xác định mức đầu tư, ăn chia sản phẩm giữa nhà máy với nhóm hộ được thực hiện tương tự như quy định tại điểm a, b, Mục 1.1. Mức ăn chia sản phẩm của các hộ thành viên trong nhóm được xác định trong cam kết hoạt động của nhóm do các hộ thành viên tự thoả thuận.
1.3. Đơn vị trồng rừng là các công ty lâm nghiệp, lâm trường, doanh nghiệp (chủ rừng)
a). Nếu chủ đầu tư trồng rừng là nhà máy chế biến
Nhà máy chế biến ký hợp đồng với các chủ rừng thực hiện liên kết trồng rừng, mức đầu tư của nhà máy chế biến cho chủ rừng và khối lượng sản phẩm gỗ mà chủ rừng giao nộp cho nhà máy chế biến được thoả thuận giữa 2 bên.
Sau khi ký hợp đồng với nhà máy, chủ rừng tổ chức trồng rừng thông qua các hình thức khoán công việc cho các hộ thành viên của mình và các hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống trong khu vực hoặc có thể thực hiện liên kết với hộ gia đình, cá nhân để trồng rừng như hình thức hướng dẫn tại điểm 1.1, mục 1 của hướng dẫn này.
b). Trong trường hợp các chủ rừng là chủ đầu tư
Việc lựa chọn nhà máy chế biến tiêu thụ sản phẩm do chủ rừng tự quyết định. Phương thức tổ chức trồng rừng thông qua liên kết với hộ gia đình, cá nhân cũng thực hiện tựơng tự như giữa nhà máy chế biến với hộ gia đình, cá nhân theo quy định tại điểm 1, phần II.
2. Việc ký kết và thực hiện hợp đồng giữa người trồng rừng nguyên liệu với các cơ sở chế biến, hoặc các chủ rừng phải thực hiện đúng quy định của pháp luật về hợp đồng kinh tế. Hợp đồng cung cấp, thu mua nguyên liệu phải trên cơ sở thoả thuận giữa bên bán, bên mua, được Uỷ ban nhân dân cấp xã sở tại xác nhận ( đối với trường hợp người cung cấp nguyên liệu là hộ gia đình, cá nhân) và phải được đưa vào cam kết trong hợp đồng trên cơ sở các nguyên tắc sau:
2.1. Đối với cơ sở chế biến
- Cơ sở chế biến và người sản xuất nguyên liệu có trách nhiệm thực hiện đúng các cam kết trong hợp đồng. Bên nào không thực hiện đúng nội dung đã ký kết mà gây thiệt hại thì phải bồi thường cho bên bị thiệt hại theo quy định của pháp luật.
- Các cơ sở chế biến không được tranh mua nguyên liệu trong khu vực mà các cơ sở khác đã đầu tư. Không được ký hợp đồng thu mua nguyên liệu mà người sản xuất đã ký hợp đồng với các doanh nghiệp khác.
- Các cơ sở chế biến nếu không mua hết khối lượng, không đúng thời gian, địa điểm đã cam kết trong hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại về vật chất do hành vi gây ra theo quy định của pháp luật.
2.2 Đối với người trồng rừng
- Người sản xuất nguyên liệu chỉ được bán sản phẩm cho các cơ sở chế biến khác khi các cơ sở chế biến đã đầu từ hoặc ký kết hợp đồng nhưng từ chối bằng văn bản không mua hoặc không mua hết nguyên liệu đã sản xuất.
- Người trồng rừng nguyên liệu đã hợp đồng và nhận tiền vốn, vật tư của cơ sở chế biến mà cố tình không bán hoặc bán cho các cơ sở khác, bán thiếu số lượng, chủng loại, chất lượng và thời gian đã ghi trong hợp đồng thì phải thanh toán lại cho cơ sở chế biến toàn bộ giá trị vốn đã ứng bao gồm cả khoản lãi ay ngân hàng và phải bồi thường thiệt hại gây ra theo quy định của pháp luật.

>> Xem đầy đủ Văn bản 1186/BNN-LN

Số lượt đọc:  2819  -  Cập nhật lần cuối:  15/10/2009 02:40:50 PM
Liên kết web
Tin mới nhận
Trung Quốc trở thành thị trường xuất khẩu gỗ lớn thứ 2 của VN
Khởi công xây dựng Nhà máy gỗ MDF tại Bắc Kạn
Đắk Lắk thu hồi 18 dự án trồng cao su, trồng rừng
Bác bỏ cáo buộc sai lệch về ngành gỗ Việt Nam
Sắp xếp lại Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp Vinafor
Phê duyệt hồ sơ thiết kế và cấp phép khai thác trồng rừng kinh tế - Kế hoạch 2011
Hội nghị phổ biến Giáo dục pháp luật và Quy chế nội bộ của Tổng công ty khu vực phía Nam năm 2011
 Trang chủ  |   Giới thiệu  |   Lĩnh vực hoạt động  |   Sản phẩm dịch vụ  |   Liên hệ  |   Nội bộ  |   English